Còn bao cấp nữa đâu mà vẫn uống cà phê trộn?

Đó là câu nói mà tôi đã thốt ra khi tìm hiểu về vấn đề: vì đâu mà cái “gu” của người Việt lại chuộng cà phê trộn, cà phê bẩn đến thế?

Để làm rõ hơn về vấn đề này, chúng ta phải cùng nhau nhìn lại thời kỳ của những ngày đầu cà phê phổ biến ở Việt Nam.

Tôi xin mạn phép trích dẫn một phần trong bài viết “Lịch sử cà phê bẩn” của tác giả Kinh Vu.

Sau ngày thống nhất (1975) khi mà đất nước còn khó khăn trăm bề, bởi hậu quả chiến tranh, bởi những vấn đề những tưởng chẳng liên quan gì đến cà phê thì cà phê là một trong những mặt hàng chiến lược mà Nhà nước dành độc quyền xuất khẩu thông qua Công ty Ngoại thương Tỉnh Daklak (tiền thân của Inexim ngày nay) để thu về ngoại tệ. Do vậy mọi vấn đề từ vận chuyển, lưu thông, phân phối ở ngoài Công ty Ngoại thương thì đều là hàng lậu, có điều lạ là sản xuất thì không phải là lậu, nhưng sản phẩm làm ra phải bán cho nhà nước mặc dù hồi ấy vườn cà phê rất ít, hầu hết là những vườn của người Pháp hay những chủ đồn điền lớn để lại cùng với một số vườn nhỏ của bà con dân tộc Êđê.

Sản phẩm từ nông trường nếu là của Nhà nước hay tập thể quản lý thì vật tư đầu tư cho SX sẽ được cung cấp bao cấp theo giá rẻ như cho, vật tư đầu vào là phải được duyệt và cấp, tiếng là theo kế hoạch nhưng theo dạng xin – cho bởi nó quá rẻ và tất nhiên là SP làm ra phải bán cho nhà nước mua vào với cái giá cũng rẻ hơn cà pháo.

Đã như thành quy luật của loài người, hễ khi nào có thị trường chợ trắng thì bên cạnh thể nào cũng có thị trường chợ đen bởi người dân vẫn phải uống cà phê, vì thế mà vẫn có người phân phối cho nhu cầu rất chính đáng này. Lượng cà phê mua bán bên ngoài là hàng lậu vì dĩ nhiên không ai đi đăng ký đóng thuế mua bán cho một loại hàng cấm, chính vì vậy mà có một lực lượng rất hùng hậu mà tôi không nhớ được gọi tên là gì, chuyên làm công tác kiểm soát để bắt cà phê lậu lưu thông trên thị trường, có khi đó là hàng do người dân sản xuất ra thì người ta gọi là “thu mua” một từ ngữ chưa từng có trước đó trong từ điển tiếng Việt, bởi thu là thu mà mua là mua, chứ nửa thu, nửa mua vào thì chưa có, cho nên ngày nay chúng ta mới có cái từ “thu mua”.

Giá cà phê “mua” trên thị trường chợ đen thường cao hơn giá “thu mua” cả chục lần, nhất là giá chênh lệch giữa Tp.Hồ Chí Minh và Buôn Ma Thuột thì còn kinh khủng hơn nữa, người ta bằng bất kỳ mọi cách để mang lọt cho được cà phê ra khỏi BMT, từ quy mô lớn thì dấu trong lốp xe tải, hay nhỏ hơn thì dấu vào bất kỳ chỗ nào dấu được ở trong người để qua mắt các trạm kiểm soát, mỗi lần xe dừng ở các trạm thì cần khoảng 4-5 tiếng đồng hồ cho việc kiểm soát, thế nhưng đến trạm sau còn xét thì vẫn còn tìm thấy cà phê mới là tài, trong dân gian hồi đó lưu truyền câu:

Không đi thì nhớ thì thương
Mà đi thì sợ Khánh Dương – Ba Ngòi

là hai trạm soát nổi tiếng nhất.

Cần phải dài dòng như ở trên thì các bạn trẻ mới có thể thấy được rằng chính vì thế để có được một phin cà phê thật sự sạch và xịn như đòi hỏi là khó khăn đến dường nào, cho nên ngườirang xay cà phê mới bắt đầu trộn cà phê mẻ, cà phê đen vì những thứ này rẻ hơn và dễ được bỏ qua hơn ở các trạm kiểm soát, dần dà những loại cà phê mẻ hay xấu cũng rất khó khăn mới có được thì người ta lại nghĩ đến việc trộn vỏ dày của cà phê vào, thứ này không ai bắt mà dẫu sao nó cũng có chút hơi hướm cà phê trong đó.

Điểm qua một số nguyên nhân vì sao mà người ta không được uống cà phê được làm từ cà phê thật mà phải uống một loại nước được gọi là cà phê.

Trong thời gian đó chúng ta có thể thấy rất nhiều quán cà phê vỉa hè trên đường phố Sài gòn, cũng vì không quá tất bật như hiện nay, cho nên buổi sáng phần đông từ lớp trung niên trở lên thường ra ngồi “thưởng thức không khí cà phê” và tán gẫu (chat offline) ngàn lẻ một chuyện trên trời dưới đất, có nhiều người không hề ghiền cà phê, họ chỉ ghiền không khí gặp gỡ và nói chuyện linh tinh như chúng ta ghiền cái diễn đàn trên Internet ngày nay vậy, đó cũng là một kiểu gặp mặt ngoài mạng như ngày nay (natural offline) mặc dù hồi đó chưa hề có cái khái niệm trực tuyến (online).

Lẫn lộn trong số người uống cà phê vỉa hè theo phong trào, dĩ nhiên cũng có những người ghiền và biết thưởng thức thật sự, nhưng ai đi nữa thì cũng phải thông cảm với tình hình thực tế khó khăn lúc ấy, cơm ăn còn phải độn bắp, bo bo, sắn mà đòi hỏi phải có cà phê xịn để uống hóa ra là thần kinh có vấn đề như ông già ăn xin chê trà lẫn trấu trong câu chuyện Chiếc Ấm Đất của Nguyễn Tuân hay sao?.

Để hài lòng đám khách trung thành này, người ta đã có nhiều “sáng kiến” độc đáo và còn rất thật thà so với thời nay như dùng lại bã cà phê đã pha, hạt bắp rang đen với kỹ thuật không cho nổ, sắc nước hạt cau để lấy chất ta nanh (tannin) có vị chát, đắng giông giống như cà phê, trong mỗi ly chỉ cần một vài giọt là làm cho hợp chất gọi là cà phê đặt quánh lại, uống một ly thức ngủ cả đêm, thế là sáng ra kháo nhau rằng quán nọ quán kia bán cà phê xịn thật.

Và cứ như thế theo dòng thời gian sự tiến hóa cà phê bẩn đã đạt đến tầm cao hơn, như chúng ta đã biết ngày nay.

Dần dà khẩu vị chúng ta cũng tiến hóa để rồi quen và chấp nhận với một thức uống tạm gọi là cà phê mà trong đó cần có đậu nành để làm cho “cái gọi là cà phê” có vị béo, đặc; bắp rang cháy để làm cho “cái gọi là cà phê” có màu đen và đắng, chất tạo bọt trong xà phòng khiến cho ta có cảm giác yên tâm đang uống cà phê thật và nhiều loại hóa chất đến nay chỉ có quỷ thần mới biết nó là gì.

Vậy đấy, không phải tự nhiên mà cà phê trộn, cà phê giả lại có mặt trên thị trường, không phải “cái gu” của người Việt đã sẵn là như thế. Tôi tạm hiểu là thời kỳ bao cấp đã làm người tiêu dùng vô tình bị định hướng lệch về hương vị đích thực của ly cà phê thơm ngon. Nhưng ngoài lý do về lợi nhuận, đổ tại cái gu của khách hàng là vậy nên tôi phải bán thứ cà phê cám cò ấy thì thật sự là một sự nguỵ biện sai trái, là coi thường khả năng thưởng thức của người tiêu dùng quá rồi!

Bằng chứng là hệ thống phân phối cà phê Tâm Cà đã không ít quán ban đầu từ chối vì lý do “khách quen uống cafe trộn rồi” nhưng sau một thời gian kiên trì, cà phê nguyên chất đã có thể đánh bật được cà phê trộn tại chính quán đó.

ca phe nguyen chat hai phong (10)
Chỉ cần người bán tận tâm, khách hàng chắc chắn sẽ đủ thông minh và tinh tế để cảm nhận được hương vị đích thực của ly cà phê. 

Chúng ta đã thoát khỏi thời kỳ bao cấp rồi, đã không cần phải độn ngô độn sắn vào bát cơm nữa, đã không còn cần phải mua bán cà phê một cách chui lủi nữa, vậy tại sao chúng ta không cho mình cơ hội được thưởng thức ly cà phê thật sự, trả lại cho cà phê giá trị nguyên bản của nó.

Cuộc đời này thì ngắn, hãy cho mình cơ hội được tận hưởng những giá trị đẹp nguyên vẹn, đừng mãi u mê trong những giá trị đã bị đánh tráo nữa, được không nào?

___
Xem thêm: tự làm thí nghiệm nhận biết cà phê thật

0936.700.696